Chủ nhật, 20 Tháng 3 2016 11:46

Truyền thống

Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ) tiền thân là Trường Quân chính sơ cấp Quân giải phóng miền Nam, được thành lập ngày 27/8/1961 tại ấp Lò Gò, xóm Rẫy, xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Ra đời, lớn lên giữa lòng chiến trường miền Nam “Thành đồng Tổ quốc” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; trưởng thành vững chắc trong thời kỳ cả nước thực hiện công cuộc đổi mới, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, trải qua 55 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; được sự đùm bọc, giúp đỡ của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương cùng các đơn vị bạn, với ý chí tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, hạ sĩ quan - binh sĩ toàn trường, Nhà trường đã liên tục phấn đấu vươn lên, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó. Những thành tích mà Nhà trường đạt được trong hơn nửa thế kỷ qua đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và công cuộc xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày 28/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1973/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Nguyễn Huệ trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Lục quân 2. Ngày 12/8/2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 3379/QĐ-BGDĐT cho phép Trường Đại học Nguyễn Huệ đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành nghệ thuật quân sự. Trong những năm tới, Nhà trường phấn đấu trở thành một trường trọng điểm của quân đội có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ sĩ quan chỉ huy tham mưu lục quân có trình độ đại học và sau đại học, đào tạo cán bộ quân sự địa phương, làm công tác chỉ huy, quản lý, huấn luyện bộ đội, giảng dạy và nghiên cứu khoa học cho các đơn vị trong toàn quân ở phía Nam và đào tạo cán bộ quân đội nước ngoài, đồng thời tham gia đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học có chất lượng ở phía Nam, nghiên cứu nghệ thuật quân sự và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến theo hướng đi trước đón đầu, góp phần xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.

NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ CỦA NHÀ TRƯỜNG

 - Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (1996).

- 01 Huân chương Hồ Chí Minh (2006).

- 01 Huân chương Quân công hạng Nhất (1984).

- 01 Huân chương Quân công hạng Nhì (2011)

- 01 Huân chương Quân công hạng Ba (2001).

- 01 Huân chương Chiến công hạng Nhất (1971).

- 02 Huân chương Chiến công hạng Hai (1968, 1981).

- 04 Huân chương Chiến công hạng Ba (1962, 1966, 1975, 1997).

- 01 Huân chương Hữu nghị hạng Nhất của Vương quốc Campuchia (2006).

- 01 Huân chương Hữu nghị Xa - hạ - Mê - T’rây bậc cao hạng nhất của Chính phủ Hoàng gia Campuchia (2011).

 

NHỮNG LẦN THAY ĐỔI TÊN

VÀ ĐỊA ĐIỂM ĐÓNG QUÂN CỦA NHÀ TRƯỜNG

A. Tên trường:

1. Trường Quân chính sơ cấp Miền (phiên hiệu C86): Từ 27/8/1961 – 4/1964.

2. Trường Quân chính Trung – sơ cấp Miền (phiên hiệu H12): Từ 4/1964 – 12/1969.

3. Trường Quân chính sơ cấp Miền (phiên hiệu H12): Từ 1969 – 1973.

4. Trường Lục quân Tổng hợp (phiên hiệu H28): Từ 01/1973 – 10/10/1975.

5. Trường Sĩ quan Lục quân 2: Từ 10/10/1975 đến nay.

6. Ngày 28/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1973/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Nguyễn Huệ trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Lục quân 2.

B. Địa điểm:

1. Từ 8/1961 – 02/1966: ấp Lò Gò, xóm Rẫy, Hòa Hiệp, Tân Biên, Tây Ninh.

2. Từ 02/1966 – 12/1966: Trảng Tà Xia, Tân Biên, Tây Ninh.

3. Từ 12/1966 – 3/1970: Mã Đà, Đồng Nai.

4. Từ 3/1970 – 7/1971: Cây Dầu, Tà Nốt, Xoài Riêng, Campuchia.

5. Từ 7/1971 – 3/1973: Xoài An Tô, Prây-ven, Campuchia.

6. Từ 3/1973 – 1974: Kà Tum, Tân Biên, Tây Ninh.

7. Từ 1974 – 5/1975: Bù Đốp, Bình Phước.

8. Từ 5/1975 – 10/1975: Bến Cát, Bình Dương.

9. Từ 10/1975 đến nay: Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai.

 

CÁC ĐỒNG CHÍ HIỆU TRƯỞNG,

CHÍNH UỶ (PHÓ HIỆU TRƯỞNG VỀ CHÍNH TRỊ)

QUA CÁC THỜI KỲ 

A. Hiệu trưởng

1. Đỗ Phong (Hai Trung) (8/1961 – 4/1964)

2. Trần Phi Hùng (4/1964 - 01/1966)

3. Nguyễn Đức Song (4/1969 - 10/1969)

4. Đỗ Quang Hưng (10/1969 - 4/1971)

5. Tăng Thiện Kim (02/1973 - 5/1976)

6. Nguyễn Mạnh Quân (5/1976 - 5/1977)

7. Nguyễn Như Thiết (Cuối năm 1977 - đầu 1979)

8. Mạc Đình Vịnh (3/1979 – 10/1987)

9. Lê Nam Phong (10/1987 - 6/1997)

10. Đào Văn Lợi (6/1997 - 10/2000)

11. Nguyễn Đức Xê (10/2000 – 12/2007)

12. Vũ Đức Hinh (01/2008 - 6/2012)

13. Từ Ngọc Lương  (6/2012 đến nay)

B. Chính uỷ (Phó Hiệu trưởng về chính trị)

1. Lê Thiện Tứ (4/1964 - 01/1966)

2. Tô Việt Hồng (01/1966 - 10/1966)

3. Nguyễn Văn Tây (10/1966 - cuối năm 1967)

4. Nguyễn Văn Thiều (10/1967 - 4/1969)

5. Lê Phải (4/1969 - 3/1971)

6. Nguyễn Tường Quang (3/1971 - 02/1973)

7. Đặng Văn Thượng (giữa năm 1975 - 6/1976)

8. Vương Thế Hiệp (3/1975 - giữa năm 1975; 6/1978 - 1982)

9. Dương Cự Tẩm (6/1976 - 6/1978)

10. Đoàn Cận Thính (1982 - 1984)

11. Nguyễn Đình Trương (1985 - 1989)

12. Vũ Minh Tâm (6/1990 - 02/1996)

13. Nguyễn Viết Khai (02/1996 -  12/2007)      

14. Phạm Văn Dỹ (01/2008 – 9/2010)

15. Lê Thái Bê (9/2010 đến nay) 

 

NHỮNG CÁN BỘ LÀ HỌC VIÊN CỦA TRƯỜNG 

ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG DANH HIỆU ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN

1. Tạ Quang Tỷ.

2. Đặng Văn Đối.

3. Đinh Văn Biểng.

4. Nguyễn Minh Khanh.

5. Lê Thanh Sơn.

6. Nguyễn Văn Chiểu.

 

CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN NHÀ TRƯỜNG ĐƯỢC NHÀ NƯỚC

TẶNG DANH HIỆU NHÀ GIÁO ƯU TÚ 

1. Đại tá Nguyễn Thiện Minh (năm 1997)

2. Đại tá Nguyễn Đức Tỉnh (năm 2000)

 

CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN

ĐƯỢC CÔNG NHẬN ĐẠT TIÊU CHUẨN CHỨC DANH

PHÓ GIÁO SƯ

1. Trung tướng Nguyễn Đức Xê (2006)

2. Trung tướng Vũ Đức Hinh (2009)

3. Trung tướng Từ Ngọc Lương (2014)

4. Trung tướng Nguyễn Đức Tỉnh (2009)

5. Thiếu tướng Nguyễn Thế Thức (2011)

6. Thiếu tướng Đỗ Duy Tần (2011)

7. Đại tá Trần Ngọc Hân (2012)

8. Đại tá Vũ Thanh Hiệp (2012)

9. Đại tá Lê Doãn Nguyên (2011)

10. Đại tá Lê Duy Thu (2013)

11. Đại tá Mai Xuân Quyết (2012)

12. Đại tá Đoàn Như Vinh (2012)

13. Đại tá Nguyễn Văn Lập (2011)

14. Đại tá Phạm Văn Tuấn (2012)

15. Đại tá Lê Quang Tuyến (2013)

16. Đại tá Triệu Hồng Thanh (2014)

17. Đại tá Lê Đình Hòa (2013)

18. Đại tá Trần Ngọc Xưa (2014)

19. Đại tá Nguyễn Thanh Điều (2015)

20. Đại tá Nguyễn Ngọc Phương (2015) 

21. Đại tá Dương Văn Sự (2015)